Banner
Tìm kiếm  
Sản phẩm mới
HỖ TRỢ KHÁCH HÀNG

SUA_NHA_TRON_GOI__Xu_ly_nuoc_thaiXu_ly_nuoc_sachDem_vi_sinhXay_nha_tron_goisua_nha_tron_goiPha_do_nha

  • Xây nhà trọn gói-sửa nhà trọn gói

    GIÁM SÁT THI CÔNG VÀ NGHIỆM THU CÔNG TÁC XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH KHAI THÁC MỎ - PHẦN 7

    (Xây nhà trọn gói – sửa nhà trọn gói) Bài viết này trình bày những điều cơ bản về các kiến thức phục vụ cho việc giám sát, thi công và nghiệm thu các công trình khai thác mỏ.

    3.3  Công trình khai thác dầu khí ngoài biển :

     

     Công trình biển có những đặc điểm nổi bật , ảnh hưởng đến toàn bộ quá trình thiết kế, chế tạo cấu kiện, thi công và khai thác. Những đặc điểm chủ yếu là:

    (i) Tính đa dạng về kiến trúc, kết cấu

    (ii) Tính xa bờ và tính độc lập đén mức cô lập

    (iii) Đòi hỏi tính bền vững cao vì chịu nhiều yếu tố ngẫu nhiên tác động

    (iv) Quá trình khai thác dễ gây ô nhiễm cho môi trường do tràn dầu, phụt dầu, thải bổ các chất thải công nghiệp.

    (v) Giải pháp kết cấu hoàn toàn phụ thuộc giải pháp thi công

    (vi) An toàn của công trình và an toàn lao động luôn bị đe doạ vì các yếu tố biển.

    (vii) Sự đáp ứng các điều kiện sửa chữa, duy tu công trình, máy móc thiết bị khó khăn vì xa đất liền.

    (viii) Đời sống vật chất và tinh thần khó khăn, tẻ nhạt, các điều kiện lao động và nghỉ ngơi khó khăn.

     

    Để xây dựng công trình biển có các bước:

     

    ·     Công tác thi công trên bờ : Làm các công tác chế tạo cấu kiện, nguyên vật liệu, lắp ráp, khuyếch đại đến mức tối đa và sắp xếp vận chuyểnây dựng.

    ·     Vận chuyển cấu kiện, các thứ đã chuyển bị trên bờ ra vị trí xây dựng

    ·     Tạo dựng thiết bị thi công trên biển

    ·     Lắp dựng công trình từ chìm đến nổi

    ·     Lắp dựng thiết bị vận hành khoan và thu hồi sản phẩm, hệ chứa, hệ neo.

     

     

    Công trình biển có yêu cầu an toàn cao nên người kỹ sư tư vấn giám sát cần hết sức lưu tâm để đề ra các yêu cầu cho nhà thầu.

     

                Các yêu cầu về an toàn trong việc xây dựng công trình biển:

     

    ·     Sự an toàn công trình biển là thể thống nhất của toàn bộ quá trình đầu tư và xây dựng:

     

    Không thể tách rời sự an toàn của công trình chỉ trong khâu thi công mà phải hình dung sự an toàn của công trình trong toàn bộ các khâu từ khảo sát, thiết kế đến thi công và vận hành. Nếu tách rời từng khâu sẽ sinh phiến diện mà để xảy ra sai sót.

    Các số liệu sử dụng cho thiết kế phải đảm bảo độ tin cậy cao. Ngoài yếu tố về trữ lượng dầu khai thác còn phải tìm hiểu các số liệu về xây dựng công trình một cách rất chi tiết , tỷ mỷ. Những dữ liệu cơ bản cần xác định với việc xây dựng công trình biển là các dữ liệu về gió , sóng bao gồm  sóng tiền định và sóng ngẫu nhiên, hải lưu do các tác động dòng chung, dòng triều và dòng do bão. Các tác động ảnh hưởng đến tính toán công trình biển như sinh vật bám trên bề mặt công trình biển, sự ăn mòn vật liệu của nước biển, nhiệt độ không khí và nước khu vực xây dựng, động đất, nồng độ và thành phần hoá của nước biển, số liệu khí hậu như lượng mưa, số ngày nắng, hướng gió, sương mù, mây, các số liệu về khí tượng của khu vực xây dựng . Số liệu địa chất đáy biển khu vực xây dựng, tình trạng đáy biển như độ sâu, cấu trúc địa tầng, sinh thái và các công trình của con người đã có tại nơi xây dựng.

     

    Giải pháp thiết kế chung phải phù hợp với quy mô công trình, tình hình chung tại vị trí xây dựng bao gồm luồng lạch, giao thông, khí tượng, khí hậu, địa chất, độ nông, sâu, trữ lượng và thời hạn dự báo khai thác, các phương tiện, thiết bị sử dụng. Chọn giải pháp thiết kế cần lưu tâm đến những vấn đề chủ yếu là cấu trúc nâng đỡ, biện pháp bảo đảm an toàn khi làm việc, tiện nghi cho lao động và sinh sống trên biển. Vấn đề sử dụng vật liệu xây dựng quyết định hình thái công trình. Xác định tải trọng và lựa chọn tổ hợp tải trọng để đảm bảo cho công trình đủ an toàn và kinh tế. Có 5 loại tải trọng chính như sau:

    Tải trọng thường xuyên gồm tải trọng của bản thân kết cấu, trọng lượng ballat, thiết bị máy móc đặt thường xuyên và không thường xuyên nhưng trong thời gian dự báo trước khá dài hạn, áp lực thuỷ tĩnh . . .

    Tải trọng hoạt: tải trọng do nhu cầu khai thác, tải trọng cần trục, nguyên vật liệu chứa đựng nhất thời, neo cập tầu, máy bay trực thăng . . .

    Tải trọng do biến dạng là loại tải trọng tác động gián tiếp như nhiệt độ, co ngót, chùng ứng suất, lún không đều . . .

    Tải trọng do môi trường như sóng, gió, dòng hải lưu, động đất, sinh vật bám, băng tuyến . . .

    Tải trọng do sự cố như do nổ, cháy, rơi vật, mất áp suất, va chạm . . .

    Các tải trọng trên phải xét trong đầy đủ đối với các giai đoạn thi công và khai thác công trình. Khi lựa chọn tải trọng phải lưu tâm đến tính chất tác động. Cần phân biệt tải trọng trực tiếp hay gián tiếp, do môi trường hay do con người, có vị trí cố định hay di chuyển, có hiệu ứng động hay không, ngẫu nhiên hay tất nhiên, thường xuyên hay tạm thời.

    Trạng trhái tác động của tải trọng cần phân biệt là bình thường hay cực đại. Tuỳ theo phương pháp luận về tính toán mà lựa chọn hệ số độ tin cậy, lựa chọn hệ số tải trọng và tổ hợp tải trọng.

    Phương án thi công gắn liền với giải pháp thiết kế kết cấu công trình. Từng phương án chế tạo, vận chuyển, lắp dựng đòi hỏi có những trường hợp riêng về tải trọng. Cần rà xoát để không sót tải trọng nhưng cũng đảm bảo tính kinh tế của công trình.

     

    *  Các yêu cầu an toàn cho người làm việc trên biển:

     

    Môi trường lao động trên biển không là môi trường truyền thống, quen thuộc với sinh hoạt của con người. Do đó, vấn đề bảo hộ cũng như bảo đảm cuộc sống trên biển cần được lưu tâm đặc biệt.

    Người làm việc trên biển phải được kiểm tra sức khoẻ và sức khoẻ phải đảm bảo lao động được. Người làm việc trên biển phải có tinh thần vững vàng. Do cuộc sống phải xa đất liền, xa những điều kiện cấp cứu phổ thông nên người lao động trên biển phải có tinh thần tự lo cho mình. Tại nơi làm việc trên biển phải bố trí y tế cấp cứu để có thể sử lý được những trường hợp thông thường. Người lao động trên biển phải được kiểm tra sức khoẻ định kỳ không châmh hơn 6 tháng/lần. Vấn đề phòng bệnh và chữa bệnh cấp cứu được đề ra nghiêm túc.

    Trong quá trình làm việc, sự di chuyển giữa các công trình hoặc giữa công trình biển với đất liền cần đảm bảo an toàn tuyệt đối. Quá trình bốc xếp hàng hoá, trục cẩu là quá trình hay gây tai nạn, phải có quy trình chặt chẽ, phải có quy định rất cụ thể và công nhân cần thao tác thành thạo và cẩn thận.

    Điều kiện lao động luôn tiếp súc với dầu, với khí dễ gây nổ, gây cháy cũng như phải tiếp súc với các chất độc hại nên cần hết sức cẩn thận và bảo đảm phương tiện cứu trợ kịp thời.

    Công tác lặn khá phổ biến với điều kiện lao động ở công trình biển. Sự phòng hộ cũng như quy trình để lặn phải được người lao động nắm vững và thực hiện các điều kiện an toàn lao động nghiêm túc.

    Sự bất trắc về thời tiết, khí hậu, thiên nhiên . Cần có biện pháp đề phòng rủi ro thoả đáng thì lao động trên biển giảm được nhiều mối lo lắng. Cần tuân thủ nghiêm ngặt phép sử lý khi có người bị tai nạn, khi có người rơi xuống biển cũng như khi gặp gió to, sóng lớn hoặc khi thấy có tín hiệu nghe nhìn lạ thường hay xảy đến.

     

    *   Những tiêu chí cần lưu ý khi lắp đặt an toàn công trình biển:

     

    ·     Khoảng cách an toàn của vị trí lắp đặt:

     

    Vị trí lắp đặt công trình biển phải cách luồng di chuyển thường xuyên của tàu thuyền của các luồng vào cảng, khu vực hoạt động của cảng tối thiểu là 30 mét.

     

    ·     Kiểm tra đáy biển:

     

    Phải lặn để kiểm tra đáy biển nơi đặt công trình. Đáy công trình không được có các vướng vấp, cản trở sự xây dựng công trình. Không được có các mỏm đá, phay, mương , xác tàu đắm hoặc ngay cả những đường ống, cáp điện thoại, miệng giếng đã bỏ . . .

     

    ·     Hạ cọc neo và ống dẫn hướng:

     

    Mọi biện pháp thi công phải dựa vào các thông số khảo sát về nền. Việc hạ cọc neo cho phép xác định lực khoan sâu và lực giật thí dụ của sóng gây ra.

    Đối với nền yếu có thể khoan càng sâu càng tốt và ít nhất đến độ sâu hơn chỗ đất mà cọc neo đủ chịu và sàn khoan hoạt động được. Có thể, khi cần thiết thì khoan bên trong các cọc và ống dẫn hướng.

     

    ·     Hướng của công trình biển:

     

    Hướng của công trình biển phải đặt sao cho gió chủ đạo không thổi khí, thổi dầu hút từ giếng lên hắt về phía các động cơ đốt trong, bộ xả hơi và nồi hơi đặt trên dàn máy. Ngoài ra, bộ phận điều khiển từ xa, các bộ phận an toàn của miệng giếng, sân bay trực thăng, các điểm neo tầu dịch vụ phải bố trí xa miệng giếng.

    Hướng của dòng hải lưu phải thuận tiện cho điểm neo tàu dịch vụ. Hướng gió chủ đạo phục vụ tốt cho việc cất cánh và hạ cánh  của sân đỗ trực thăng.

    Vị trí điểm kiểm soát chung của công trình phù hợp với hướng di chuyển của mặt trời vào các thời điểm trong ngày.

    Thường việc bố trí hướng của công trình biển phải xem xét kỹ trong mối  liên quan đến sự vận hành cuả công trình biển. Nếu việc bố trí hướng có quá nhiều khó khăn thì phải lưu tâm đặc biệt đến sóng lừng. Khi có sóng lừng mọi thao tác trên sàn phải giảm đến mức tối đa, tuân theo những chỉ thị nghiêm ngặt khác để đề phòng việc phụt dầu hay phụt khí từ giếng.

    6.5    Kiểm tra việc lắp đặt công trình biển:

     

    Trên công trình biển cố định hay di chuyển được phải lắp hệ thống dụng cụ kiểm tra để nhận biết được tính trạng ngang bằng vào bất kỳ thời điểm nào và thường xuyên. Với các công trình biển nổi, phải lắp các thiết bị kiểm tra độ lệch nghiêng về một bên ( list ), độ lệch dọc tàu, thuyền, độ chíu mũi hay hếch mũi tàu ( trim ). Phải có dụng cụ kiểm tra độ tròng trành ( rolling ) , biên độ nhấp nhô ( pitching ) cũng như độ căng của dây neo nếu sử dụng các loại dây neo truyền thống.

     

    6.6        Tín hiệu hàng hải và hàng không

     

    Các công trình biển dù cho sử dụng vào bất kỳ mục đích nào đều phải làm tín hiệu để ban đêm nhận ra được từ bất kỳ hướng nhìn nào. Tín hiệu phải được cung cấp bằng hai nguồn điện : nguồn điện máy phát chính và nguồn điện phát bằng máy dự phòng. Ngoài ra còn nguồn phát bằng accu, đèn chính và đèn dự phòng khi đèn chính bị hỏng. Khi tín hiệu đèn bị hạn chế do tầm nhìn xa bị sương mù hoặc mưa, tuyết ,làm kém tầm nhìn rõ phải bổ sung bằng tín hiệu âm thanh như kèn báo, còi thổi theo chu kỳ.

    Tín hiệu đề nhận biết công trình biển phải nhận biết được từ mọi hướng. Chữ trên bảng tín hiệu phải có độ cao chữ trên 1 mét, chiều dày chữ trên 10 cm viết màu đen trên nền vàng. Những biển này phát sáng vào ban đêm để ban đêm vẫn nhận diện được công trình biển.

    Khi đặc biệt, tín hiệu nhận biết công trình biển được bổ sung bằng hệ thống phao.

    Mọi công trình biển mà các đặc trưng công trình hoặc địa điểm công trình gây nguy hiểm cho hàng không, đặc biệt là các công trình khoan, phải làm hệ tiêu cho máy bay.

    Nguồn điện cho tiêu báo hàng không cũng phải cung cấp từ hai nguồn như tín hiệu hàng hải.

    Một số quy định về tín hiệu được sử dụng rộng rãi trên thế giới như sau:

    ·     Khi công trình cao trên 50 mét so vói mặt nước biển phải có giấy phép của cơ quan quốc phòng và cơ quan điều hành không lưu.

    ·     Hệ tiêu báo ban ngày sử dụng nền trắng chữ đỏ hoặc nền trắng, chữ da cam.

    ·     Khi dùng đèn thì dùng đèn mờ, ánh sáng màu đỏ, cường độ sáng không nhỏ hơn 10 nến, cường độ mạnh chỉ sử dụng ở những nơi đặc biệt. Số lượng đèn và sự bố trí phải sao cho từ mọi hướng có thể nhận ra được công trình biển .

     

    Những thông tin sau đây cần được thông báo cho nhà quản lý vùng biển để thông báo đi các phương tiện tàu, thuyền hoặc công trình biển liên quan:

    + Sự có mặt của công trình biển, sự rời chỗ hoặc sự nhô cao cản trở hàng hải và hàng không.

    +  Mọi công việc tạo ra địa chấn như nổ mìn, gây trở ngại cho tàu chiến, tàu thương mại, tàu đánh cá, tàu công vụ hay tàu dạo chơi.

     

    Các dữ liệu phải thông báo thường xuyên về nơi quản lý vùng biển:

    + Ngày bắt đàu công tác và thời gian thực hiện công tác đó.

    + Nội dung công tác mà nếu không nắm được những thông tin này sẽ gây ra sự cố và các điều lưu ý khác.

    + Khoanh vùng công tác hay địa điểm của công trình biển. Phải xác định toạ độ địa lý thật chính xác.

    + Phương tiện sử dụng cùng với sự xuất hiện công trình biển như máy bay trực thăng, tàu dịch vụ, tàu hộ tống.

    Những thông tin mà đơn vị quản lý vùng biển phải nắm là:

    -   Đặc tính chung của công trình

    -   Số hiệu để nhận diện công trình

    -   Đặc trưng tín hiệu hàng hải mà công trình phát tín hiệu

    -   Đặc trưng của tiêu báo hàng không mà công trình phát báo.

    -   Những cản trở cho việc đánh cá như việc neo, vòng vây , ván khuôn, cọc chìm, miệng giếng.

     

    *  Tàu dịch vụ:

    Để phục vụ một công trình biển, thường có những tàu dịch vụ. Số lượng tàu và các đặc tính kỹ thuật của tàu được xác định theo các nhiệm vụ: loại công trình biển, và các điều kiện  lắp đặt công trình biển vào vị trí, điều kiện khí tượng cụ thể tại vị trí đặt công trình biển, và nhiệm vụ của tàu dịch vụ phải đảm đương. Tàu dịch vụ phải đáp ứng được yêu cầu là có tính năng cơ động cao. Tàu dịch vụ phải dễ neo và dễ tháo neo, thuận tiện trong việc chuyển người và vật liệu trên biển.

    Cầu tàu phải có khả năng quan sát từ mọi phía. Máy chính, chân vịt guồng, bánh lái của tàu dịch vụ phải kiểm tra trực tiếp được ngay từ trên cầu tàu.

    Mặt sàn tàu để nhận hàng cũng như mạn tàu phải dọn sạch máy móc, trang bị, không được gồ ghề làm ảnh hưởng đến các thao tác bỏ neo, móc chuyển hàng. Nơi chứa hàng cố định phải thụt vào trong sàn tàu và thụt vào trong mạn tàu. Cầu tàu dịch vụ không được trượt nên mặt cầu tàu phải phủ lớp ván dọc dày từ 10 ~ 15 mm trên lớp ván ngang bên dưới dày 25 ~ 30 mm. Không được để hàng ở cầu tàu. Cầu tàu không được để cho nước chảy qua như máng dẫn nước, dàu là nước mưa hay nước do sóng đánh, sóng tràn.

    Điểm cặp mạn tàu để rỡ hàng hay cho người lên xuống tàu dịch vụ phải có biển báo cho mọi người cùng thấy. Loại công trình biển có sàn tự nâng, sự chênh lệch lớn giữa cao trình cầu, sàn công tác và cao trình tàu dễ gây ra va đập dây buộc tàu vào cọc cột của công trình biển cần được liệu định trước, tránh việc để dây neo buộc tàu làm ảnh hưởng đến kết cấu. Chú ý rằng khi tàu dịch vụ cặp mạn với công trình biển có thể xảy ra sự cố sóng đánh, gió tạt làm cho tàu va đập vào công trình làm hư hỏng tàu hay công trình. Chỉ cho tàu dịch vụ được cặp mạn công trình biển khi điều kiện sóng, gió, dòng chảy cho phép.

    Phải dự phòng điểm để rỡ hàng và lên xuống người ở hai điểm đối xứng nhau trên công trình biển để công việc  không bị ảnh hưởng nhiều khi thời tiết xấu.

     

    *  Máy bay trực thăng :

     

    Lựa chọn máy bay phụ thuộc nhiệm vụ xác định như  dùng máy bay để chuyển người ốm, để di chuyển người, để tiếp tế nguyên liệu, lương thực, thực phẩm . . . Ngoài ra lựa chọn máy bay còn phụ thuộc cự ly phải di chuyển, sân đỗ có thể thiết kế được.

    Chứa xăng dầu phục vụ được cho máy bay là điều cần tính toán, cân nhắc. Cần trữ sao đủ lượng để di chuyển cho máy bay nhưng cũng cần lưu ý đến tính kinh tế của trang bị chứa.

    Máy bay một động cơ hay một tuốcbin bắt buộc phải lắp phao hay bố trí phao bơm tự động sao cho máy bay nổi càng lâu càng tốt khi phải hạ cánh xuống biển. Thời gian máy bay nổi phải đủ để mọi người thuộc đội bay và hành khách kịp sơ tán. Máy bay có hai động cơ hay hai tuốcbin có khả năng chỉ bay với một động cơ là loại máy bay an toàn cần khuyến khích sử dụng.

    Việc tiếp dầu cho máy bay muốn thực hiện trên công trình biển phải tuân theo chỉ dẫn sau đây:

    Phải đứng yên và phải nối xong hoàn chỉnh các ống tiếp dẫn trước khi bắt đầu việc bơm dầu cho máy bay.

    Phải chuẩn bị đầy đủ đồ cứu hoả và bộ phận cứu hoả sẵn sàng hoạt động.

    Phải kiểm tra độ tinh khiết của dầu sẽ bơm. Chỉ khi dầu ấy đạt các yêu cầu sử dụng mới được bơm.

    Để đảm bảo an toàn thì xăng dầu cất chứa ở công trình biển phải chứa trong khoang nước dằn hay bồn chứa riêng và phải hết sức lưu ý đến an toàn phòng hoả. Bồn chứa bên ngoài rất dễ làm dầu loang ra mặt biển, không được neo chung với hệ thống dập tắt lửa. Chứa các chất dễ cháy vào phuy, vào can phải tuân theo các điều kiên về an toàn. Phải thử nghiệm tất cả các dầu chứa trong phuy hay can, nếu đạt các yêu cầu sử dụng cho máy bay mới được dùng. Độ an toàn của máy bay rất phụ thuộc vào độ tinh khiết của dầu. Trước khi cho xăng, dầu vào máy bay, phải lọc và kiểm tra theo chế độ kiểm tra tại sân bay khi tiếp dầu cho máy bay trên sân bay đất liền. Nước lẫn trong dầu cũng như cặn bã, tạp chất phải được loại bỏ. Ống tiếp dầu cho thùng chứa phải có thiết bị mở đóng ở đầu rót theo sự làm việc của máy bơm.

    Sân đỗ máy bay ở công trình biển phải bố trí xa các vật chướng ngại. Kích thước và sức chịu của sân bay phải kể đủ các tải trọng tác động. Kích thước sân bay phải phù hợp với loại máy bay lớn nhất mà công trình biển này yêu cầu.

    Hệ tiêu báo cho sân bay trực thăng bằng ánh sáng trên công trình biển như sau:

    Vàng bao ngoài của sân đỗ có dãy đèn bọc theo toàn hướng, đèn nọ cách đèn kia 3 mét. Bố trí màu đèn thì cứ một đèn xanh lại đến một đèn màu da cam. Cường độ sáng của đèn xanh là 10 nến, đền da cam là 25 nến. Nguồn điện cho hệ đèn báo hiệu ở sân bay phải dùng hai nguồn là nguồn chính và dự phòng. Phải chiếu sáng cho nơi đỗ máy bay sao chođủ sáng nhưng không làm loá mắt phi công.

    Chính giữa sân đỗ ghi chữ H mà chiều cao chữ là 3,6 mét, chiều rộng chữ là 1,8 mét, chiều dày nét chữ là 0,4 mét.

    Cần làm hiệu báo cho cầu vào sân bay, viết tên và nhóm số hiệu của công trình biển. Mọi bộ phận của công trình biển có khả năng gây cản trở cho máy bay trực thăng khi tiếp cận, khi hạ cánh cũng như khi cất cánh phải sơn báo hiệu màu da cam, đèn mờ màu đỏ. Phải gắn vào công trình trang bị báo hướng gió và một phong kế cố định hay xách tay để phi công biết được những thông tin về tốc độ và hướng gió.

    Cần trang bị thiết bị thu phát tín hiệu vô tuyến cho công trình biển để liên hệ với đất liền và vùng lân cận khi điều kiện nhìn rõ bị hạn chế.

    Trên tất cả công trình biển có người làm việc phải được trang bị vô tuyến để liên lạc vào bất kỳ giờ nào với các: cơ sở trên đất liền, với tàu dịch vụ và với máy bay trực thăng.

    Vô tuyến cấp cứu gọi khi nguy khốn dùng tín hiệu điện báo dùng chữ S O S trên tần số cấp cứu hàng hải MF 500 kHz. Gọi phôn cấp cứu dùng tiếng MAYDAY ( ngày tháng Năm ) trên tần số cấp cứu hàng hải 2182 kHz.

    Nguồn điện cho vô tuyến cấp cứu là nguồn độc lập với nguồn thông thường của công trình biển. Trên công trình biển phải thường xuyên chỉnh sóng để luôn luôn bắt khớp được với tần số thu và nhận giữa các phương tiện cần liên lạc với nhau. Khi cần phát tin cấp cứu, những phương tiện liên lạc thông thường phải ngừng để phát tín hiệu cấp cứu. Khi không ngưng được các liên hệ thông thường thì tuân theo một kỷ luật là cứ một số câu ngắn của liên lạc thông thường lại chuyển tin cấp cứu. Các thiết bị radio ( máy phát, máy thu, dây cáp . . . ) phải đặt ở khu vực dành riêng và phải là máy có tính năng chịu được thời tiết tại khu vực sử dụng. Anten thu phát phải đặt ở vị trí thuận lợi, xa khu để máy radio nói chung.

    Mọi nơi bố trí thiết bị quan trọng trên công trình biển có người làm việc thường xuyên phải được trang bị hệ thống báo động âm thanh ( còi, còi hú báo động ) mà ở bất kỳ một điểm nào trên công trình biển đều phải nghe được. Cần có nội quy định rõ khi nào thì phát lệnh ra sao, khu vực nào thì lệnh báo động kiểu nào và khi có báo động thì khách cũng như người lao động phải làm các vịêc gì. Hệ liên lạc nội bộ phải đủ độ tin cậy và có hiệu quả để sử dụng tại công trình cũng như thông báo tình hình an toàn trên công trường.

    Những phương tiện thông tin nội bộ thông dụng là:

    Mạng lưới truyền thanh chung

    Mạng lưới điện thoại nội bộ ( cổ điển hay máy tự động phát điện )

    Mạng liên lạc nội bộ ( intercommunication )

    Mạng truyền thanh và một số mạng điện thoại nội bộ có thể được cấp bằng nguồn điện thông thường, nguồn điện dự phòng hoặc hệ cấp điện hoàn toàn độc lập với hệ thống điện chung của công trình biển.

     

     

Tin khác

CÔNG TY CỔ PHẦN TƯ VẤN THIẾT KẾ VÀ XÂY DỰNG THẠCH BÀN

Thiết kế & Phát triển bởi ICT Group